Xin chào bạn đến với e-ThongLuan
Tìm   trong  

 Đăng ký thân hữuTrang nhất | PDF | Lưu Trữ | Thăm dò | Đề Mục | Liên Lạc  

Trị Sự
· Trang nhất
· Bài Đã Đăng
(xếp theo thời gian)

· Cổ động Thông Luận
· Gửi bài
· Tìm kiếm
· Tủ Sách ThôngLuận
· Trang Nối kết
· Đề tài

Đề mục
· Tất cả các đề mục
· Ý Kiến
· Chính Trị
· Giáo Dục - Xã Hội
· Kinh Tế
· Những Vấn Đề Dân Chủ
· Những Vấn Đề Lịch Sử
· Phiếm Luận
· Quan Điểm
· Thế Giới Quanh Ta
· Thời sự
· Tuỳ bút
· Vì Đất Nước Ngày Mai
· Việt Nam Hải Ngoại
· Việt Nam-Đất & Người
· Văn Hoá-Nghệ Thuật
· Văn hoá-Tư Tưởng
· Xã Hội Dân Sự

Góc của tác giả

Photobucket - Video and Image Hosting Một vài quy ước về bài vở trên Thông Luận

THƯ ĐI TIN LẠI
26/08/2010:
Phạm Đỉnh: Thư Toà Soạn

19/06/2010:
Thư Toà Soạn: Vẫn son sắt một lòng

01/05/2010:
Thông Luận: Thư gởi các bạn “tin tặc”

24/04/2010:
Thanh: Chữ trên trang Thông Luận nhỏ như con kiến

18/04/2010:
Trần Bình Nam: Về một lời phát biểu của linh mục Nguyễn Văn Lý

15/04/2010:
Đỗ Anh Thơ: Lạm bàn về bài “Giữa Trung Quốc và Hoa Kỳ"

12/02/2010:
Thông Luận: Thư Toà Soạn

03/09/2009: Trần Thị Hồng Sương: TTHS trả lời về câu chuyện Khmer đòi đất…

31/05/2009:
Trần Thị Hồng Sương: Tiếng nói của kẻ sĩ trong cuộc chiến đấu cho dân chủ nhân quyền hiện nay

11/02/2009:
Trần Thị Hồng Sương: Trả lời ông Nguyễn Biên Cương

20/01/2008:
Hoàng Liên Sơn: Làm sao vượt tường lửa?

15/4/2007:
Đỗ Như Điền: Bài trên Thông Luận hơi khác với bài đăng nơi khác !

24/11/2006:
Thanh: Thông Luận là một môi trường thông tin quái gở nhất thế giới!

Xem tiếp thư tín trước đó

Bài đăng gần đây
30/08/2010
· Nơi nào triết học im tiếng thì minh triết cất lời (Trần Mạnh Hảo)
· Gặp lại hai cụ “cựu chán binh” tiến bộ cực kì (Tô Hải)
· Ý kiến nhỏ nhân ngày lễ lớn (về lý luận và thực tiễn) (Hà Sĩ Phu)
29/08/2010
· Không thể đi ngược lại xu thế của thời đại (Song Chi)
· Những bài thơ viết từ đồng hoang (Nguyễn Chính)
· Cả nước thích đùa (Lê Thị Thanh Chung)
· Trung Quốc – một cường quốc sau chiến tranh lạnh (Đoàn Hưng Quốc)
28/08/2010
· Tấn công những trang web này đồng nghĩa với tấn công tất cả chúng ta (Dân Làm Báo)
· Vụ án mạng trên xe Lexus đến hồi gay cấn khi Vũ Hải Triều vào cuộc (Đinh Tấn Lực)
· Ai gây nên “Vinashin”? (Nguyễn Thanh Giang)
· Ba đầu, sáu tay, và một chủ đích bất khả thành toàn (K. D.)
· Độc lập hay độc tài? (Phạm Trần)
27/08/2010
· Việt Nam giữa cuộc xung đột Mỹ-Hoa (Ngô Nhân Dụng)
· Chuyện thật ở xứ C còng [8] (Vi Đức Hồi)
· Nhà văn nào, đại hội ấy (Phạm Đình Trọng)
· Trở về đây (Trí Luận)
26/08/2010
· Hãy vững tay lái khi bẻ ngoặt (Bùi Tín)
· Lê Trung Thành - Vinashin: Chuyện bây giờ mới kể [3] (Lê Trung Thành)
· Một khuôn mặt khác của Lưu Á Châu (Dương Danh Dy trích dịch)
· Bây giờ tháng mấy...? (Nguyễn Thượng Long)
· Kỳ thị hay bao dung? (Ngô Nhân Dụng)
· Uất ức biển ta ơi! (Lê Thị Công Nhân)
· Nghịch lí Trung Hoa (Lê Duy Nhân)
19/08/2010
· 65 năm dân chủ hay làm chủ dân? (Phạm Trần)
· Bắt đầu một giai đoạn thay đổi dồn dập (Nguyễn Gia Kiểng)
18/08/2010
· Bẻ lái chiến lược thật chăng? (Bùi Tín)
· Tổ quốc đang lâm nguy (Hương Trà)
· Báo Nhân Dân tả cảnh cộng sản thoát hình thành tư bản (Ngô Nhân Dụng)
17/08/2010
· Mao Trạch Đông - ngàn năm công tội [11] (Tân Tử Lăng)
· Tính chính danh của Đại lễ Ngàn Năm (Nguyễn Phương Anh)
· Mao Trạch Đông - ngàn năm công tội [10] (Tân Tử Lăng)
· Chuyện thật ở xứ C còng [7] (Vi Đức Hồi)
16/08/2010
· Coi chừng! Cuộc đảo chính không tiếng súng! (Bùi Tín)
· Mao Trạch Đông - ngàn năm công tội [9] (Tân Tử Lăng)
· Tướng Cộng sản Trung Quốc dám nói rõ sự thật (Bùi Tín)
15/08/2010
· Hoa Kỳ trước thái độ cứng cỏi của TQ về Biển Đông (Carl Thayer)
· Mao Trạch Đông - ngàn năm công tội [8] (Tân Tử Lăng)
· Trung Quốc đánh thức Việt Nam và Ấn Độ (B. Raman)
· Họ đã trở lại (The Economist)
· Trung Quốc táo bạo từ bỏ chính sách đối ngoại của Đặng (Wu Zhong)
· Những đòi hỏi của một chọn lựa đúng (Báo Tổ Quốc)
14/08/2010
· Mao Trạch Đông - ngàn năm công tội [7] (Tân Tử Lăng)
· Đảng là ai? tên gì? ở đâu? mấy đứa? (Đinh Tấn Lực)
· Chuyện làm ăn của Mỹ (Lữ Giang)
· Bàn tay bè bạn chìa ra đúng lúc (Bùi Tín)
13/08/2010
· Phải thay đổi kỷ cương (Ngô Nhân Dụng)
· Mao Trạch Đông - ngàn năm công tội [6] (Tân Tử Lăng)
· Việt Nam cần có vũ khí nguyên tử (Nguyễn Thanh Giang)
· Thư tâm tình với nhà văn Trần Mạnh Hảo (Bằng Phong Đặng Văn Âu)
12/08/2010
· Hội nhà báo hay hội báo cáo? (Phạm Trần)

Bài viết trước đó

BÀI MỚI !
Bài được đọc nhiều nhất hôm nay:

Chủ nghĩa Mao không có Mao [9] (Nxb. Thông tin Lý luận)

  
Giáo Dục - Xã Hội: Chủ nghĩa dân tộc sinh tồn - viễn kiến khả thi trong thế trận cứu nước (Từ Phong)
Đăng ngày 25/06/2010 lúc 18:59:43 EDT
Đề tài: Nhìn Lại Mình
Nhìn Lại MìnhTranh đấu cho độc lập dân tộc

“…chủ nghĩa Dân Tộc Sinh Tồn nêu cao ý niệm đoàn kết trên căn bản dân tộc, tự chủ và tự lực, vốn rất xa lạ với cái gọi là “nô lệ căn tính”…”


Chủ nghĩa dân tộc sinh tồn
- viễn kiến khả thi trong thế trận cứu nước
Từ Phong

Phạm Đỉnh: Năm 1885 đánh dấu một thời kì đất nước ta mất chủ quyền và rơi vào ách cai trị của thực dân Pháp. Từ đó liên tiếp dấy động phong trào nổi dậy đấu tranh cho độc lập dân tộc cho đến khi chấm dứt chế độ thuộc địa, rồi chia cắt đất nước, rồi chiến tranh Nam-Bắc mang màu chủ nghĩa. Chiến tranh chấm dứt nhưng cuộc đấu tranh cho một đất nước dân chủ hãy vẫn còn xa.

Trong diễn trình đấu tranh cho độc lập dân tộc và chủ quyền quốc gia dài dằng dặc hơn trăm năm qua, đã có bao nhiêu tư tưởng chủ đạo khả dĩ vực dậy sinh lực dân tộc, và là ngọn cờ quy tụ các thành phần dân tộc cho một đất nước thực sự độc lập và một cuộc phục hưng dân tộc? Trả lời cho câu hỏi như thế đòi hỏi một công phu nhìn lại diễn trình của cuộc đấu tranh cho độc lập dân tộc và dân chủ từ hơn trăm năm nay.

Cho đến nay, những công trình tổng kết kinh nghiệm như thế chưa nhiều. Chỉ tính riêng giai đoạn từ sau năm 1954 đến nay, dễ chừng chỉ mới có một vài công trình nghiêm túc, trong đó phải kể thiên tiểu luận Lịch trình diễn tiến của phong trào quốc gia Việt Nam của Nghiêm Xuân Hồng (Quan Điểm xb., Sài Gòn, 1958). Một công trình khác ra đời không lâu sau đó cũng mang tính cách tổng kết kinh nghiệm, do Nguyễn Văn Lực, một nhà hoạt động chính trị lâu năm, biên soạn.

Tìm hiểu về tư tưởng chủ đạo, hay lí thuyết chính trị của một đảng chính trị tại Việt Nam thì cho đến nay vẫn chưa có nhiều, nếu không nói là chỉ duy nhất tập Lịch trình diễn tiến... của Nghiêm Xuân Hồng. Cho đến nay vẫn chưa thấy có những bản phân tích về chủ nghĩa Nhân Vị làm cơ sở tư tưởng cho đảng Cần Lao, chưa có công trình nghiên cứu nghiêm túc về tư tưởng chủ đạo của đảng Duy Dân, chủ nghĩa Tam Dân của đảng Quốc Dân, hay chủ nghĩa Dân Tộc Sinh Tồn của đảng Đại Việt...

Trong khung cảnh học thuật nghèo nàn như thế, Thông Luận hoan nghênh những nỗ lực như của Từ Phong, một cán sự lãnh đạo của Đại Việt, trong việc nhìn lại một chủ thuyết chính trị là cơ sở tư tưởng của đảng Đại Việt.

Mong rằng công cuộc “nhìn lại” này sẽ vẫn còn tiếp nối, để thế hệ hôm nay có điều kiện nhìn nhận lại những nỗ lực dù là thành công hay còn dang dở của thế hệ đi trước.

Trong một cuốn sách nhan đề Khổng Tử & Luận Ngữ, học giả Nguyễn Hiến Lê có viết: “Triết thuyết nào cũng chỉ để giải cứu cái tệ của một thời thôi. Muốn đánh giá một triết thuyết thì phải đặt nó vào thời của nó, xem nó giải quyết được những vấn đề của thời nó không, có là một tiến bộ so với các thời trước, một nguồn cảm hứng cho các đời sau không. Và nếu sau mươi thế hệ, người ta thấy nó vẫn còn làm cho đức trí con người được nâng cao thì phải coi nó là một cống hiến lớn cho nhân loại rồi” [1]. Những tiêu chuẩn và mô thức mà Nguyễn Hiến Lê đưa ra tiên vàn nhằm khẳng định giá trị triết thuyết của Khổng Tử, tuy nhiên trong một vài giới hạn nào đó cũng có thể ứng dụng những tiêu chuẩn và mô thức đó cho một chủ nghĩa, chẳng hạn như chủ nghĩa Dân-Tộc Sinh-Tồn của Đại Việt để thấy được tính khả thi của nó trong giai đoạn lịch sử hiện tại.

Chủ nghĩa Dân-Tộc Sinh-Tồn thoáng nhìn dưới quan điểm triết học, tuy không có tầm vóc lớn lao như một triết thuyết và những vấn đề nó muốn giải quyết vào thời xuất hiện của nó cách nay hơn sáu thập niên, thực tế vẫn còn là những mục tiêu ngày nay chúng ta đang nhắm tới, nhưng chủ nghĩa vẫn có những điều khoản có thể ứng dụng được trong lãnh vực chính trị nhất là đối với cục diện chính trị của nước ta hiện thời. Bởi vậy trong bài viết này chúng tôi sẽ thử nêu ra một số luận điểm có thể áp dụng vào trường hợp Việt Nam, qua chủ nghĩa Dân Tộc Sinh Tồn, trước vấn đề xâm lăng của ngoại bang, cụ thể là cuộc xâm lăng của Trung Quốc hiện nay đối với Việt Nam trong nhiều lãnh vực. Nhưng trước khi đi vào chủ điểm này, chúng ta sẽ xem xét lại bối cảnh của một giai đoạn văn học thời tiền chiến và kế đó là màn phông chính trị của Việt Nam trước và trong khi chủ nghĩa xuất hiện, tương quan ảnh hưởng giữa một số chủ nghĩa xuất hiện lúc bấy giờ, để tìm hiểu thêm – qua sự đãi lọc của thời gian - chủ thuyết nào còn có khả năng tồn tại và chứng minh tính khả dụng của mình.

1.- Khái quát về một số trào lưu văn học và tư tưởng trong giai đoạn 1932-1939

Các chủ nghĩa chính trị xuất hiện ở Việt Nam trong đó có chủ nghĩa Dân Tộc Sinh Tồn dĩ nhiên cũng chịu ảnh hưỏng của các biến động văn học trong một khoảng thời gian (1932-1939) mà nhà văn Lê Văn Siêu trong tác phẩm Văn học sử thời kháng Pháp đã gọi là giai đoạn “trăm hoa đua nở” [2]. Tác giả Lê Văn Siêu viết rằng: “Đây là giai đoạn văn học theo sát biến chuyển chính trị, sửa soạn cho buổi tàn tạ của chế độ thực dân Pháp. hết sức nhiều biến cố chính trị, xã hội, kinh tế đã xảy ra, khiến tinh thần người văn nghệ sĩ lúc nào cũng căng thẳng.

Mở đầu giai đoạn là cuộc khủng hoảng kinh tế, từ thế giới và Pháp quốc tràn về, như một thiên tai, khiến cuộc sống xã hội trở nên khó khăn. Hàng hoá rẻ rề, nhưng tiền không có để ăn tiêu, các xí nghiệp kinh doanh thi nhau phá sản, sa thải công nhân; ngân quỹ nhà nước thất thâu, cũng không đủ thu dụng thêm công chức; nạn trí thức thất nghiệp trở thành mối lo chung, mà trộm cướp, ma tuý, bài bạc, đĩ điếm, trở thành những vấn đề nan giải.

Các thanh niên tốt nghiệp trong nước, hoặc nhà hết tiền mà dở dang việc học, hoặc đương du học ngoại quốc nửa chừng phải về, hoặc vì tranh đấu chính trị chống khủng bố của nhà cầm quyền thuộc địa, sau vụ khởi nghĩa Yên-báy 1930 mà bị trục xuất,… tất cả đều thấy con đường công tư chức yên phận thủ thường đã tắt nghẽn, chỉ còn một lối: hoặc ăn chơi bừa bãi, uống rượu, nhảy đầm, theo lối những thanh niên du học Âu châu về như Chu Mậu, Hoàng Tích Chu, Đặng Trọng Duyệt, Đặng Phục Thông, Nguyễn Đình Thấu… hoặc hoạt động chính trị chống Pháp bằng tổ chức bí mật, hay viết sách báo vận động quần chúng công khai như Phan Văn Hùm, Tạ Thu Thâu, Hồ Hữu Tường, Huỳnh Văn Phương… Thêm chất men đấu tranh chính trị sôi động ở giai đoạn trước, đến đây gặp điều kiện xã hội mới bị phân hoá, để bốc cao hơn, giai đoạn văn học 1932-1939 quả đã là một thời trăm hoa đua nở, mà sự tiến bộ làm hoa mắt nhà nghiên cứu, thì đã quả là nhanh như chớp nhoáng
” [3].

Ở Huế, trên tờ báo Tiếng Dân, cụ Huỳnh Thúc Kháng đăng tải những bài xã luận kèm theo những danh ngôn của các danh nho đầy tính cách trang nghiêm đầy vẻ nho phong đạo lý. Nhà thơ Tản Đà Nguyễn Khắc Hiếu chủ trương thiên lương nhưng vẫn không quên ỡm ờ với xã hội trong cuốn Giấc Mộng Con và một số thi tập khác. Á Nam Trần Tuấn Khải với thi tập Với Sơn Hà và cụ Trần Trọng Kim cho xuất bản Nho Giáo. Cụ Hồ Biểu Chánh ở miền Nam viết nhiều truyện dài với kỹ thuật và nội dung ít thay đổi. Tất cả các nhà văn này đều theo một chủ trương dùng văn chương để nói chuyện nhân luân đạo lý được mệnh danh là “văn tải đạo” [4]. Khác với các nhà văn trên, tác giả Lê Văn Trương đưa ra một phong cách mới biểu lộ một năng lực mới trong lối viết và tư duy của ông. Từ 1934 đến 1939, ông viết gần 50 cuốn tiểu thuyết và xuất bản Phổ Thông bán nguyệt san. Nhận định về các tác phẩm đó, Lê Văn Siêu cho rằng: “Đọc mỗi cuốn, độc giả đều thấy những khúc mắc của tâm tình các vai trước những nghịch cảnh, hoặc những bất trắc của cuộc sống mà các vai phải vật vã với chính mình để tìm lối thoát theo tác giả đặt ra và cho là xứng đáng” [5]. Lê Văn Trương đã đưa ra những mẫu người hùng có lẽ vì ông chịu ảnh hưởng quá đậm của Đại Tá Roque trong phong trào Hỏa thập tự (Croix de feu) hồi 1934, và của các nhà độc tài Hitler, Mussolini hét ra lửa ở Âu Châu cũng bắt đầu từ hổi ấy, và phần lý thuyết thì chịu ảnh hưởng chủ trương siêu nhân của văn hào Đức Nietzche [6]. Lê Văn Trương đưa ra “triết lý sức mạnh”, tuyên dương nó để đẩy mọi người tranh đấu và dám xông vào vòng tranh đấu nhưng cái triết lý ấy thực sự đã cuốn hút không ít những người thanh niên lao đầu vào các biến động chính trị sau năm 1945 mà đa số bị lầm lạc đi theo cộng sản dẫn đến cái chết không đáng chết của nhiều người Việt Nam. Phê bình về nội dung “triết lý sức mạnh “ của Lê Văn Trương, tác giả Văn học sử thời kháng Pháp viết rằng: “Phải chi ông được dẫn đạo bởi một tư tưởng triết lý sức mạnh, đúng là mạnh thực, mạnh để tự chế, tự thắng, trước sức cám dỗ của mọi tham vọng, mà tránh vọng ngôn, vọng ngữ, vọng hành, mạnh để kính trọng sinh mạng của nhau mà gây tình đoàn kết keo sơn để hành động vì sự sống còn của dân tộc, không vì danh vì lợi cho bản thân, phải chi tư tưởng mạnh thực và giá trị như thế, thì đúng là dân tộc được có lãnh đạo tinh thần, để đối phó với mọi biến cố chính trị” [7]. Những điều mong ước của nhà văn Lê Văn Siêu, nhất là ý niệm “tình đoàn kết keo sơn để hành động vì sự sống còn của dân tộc” sẽ được đáp ứng qua chủ nghĩa Dân Tộc Sinh Tồn của Trương Tử Anh, tác giả vốn là Đảng Trưởng Đại Việt Quốc Dân Đảng.

Trong giai đoạn này một số nhà văn đưa ra đường hướng gương xưa nay soi để chiếu rọi lại quá khứ qua lối lịch sử ký sự và lịch sử tiểu thuyết như Phan Trần Chúc viết quyển Vua Hàm Nghi (Nam Ký, Hà Nội 1935), Lê Hoan (Tân Việt Nam, Hà Nội, 1939), Vua Quang Trung (Lê Cường, Hà Nội, 1940). Một số tác phẩm của Đào Trinh Nhất như những cuốn Phan Đình Phùng (Cao Xuân Hữu, Hải Phòng, 1940), Đông Kinh Nghĩa Thục (Mai Lĩnh, Hà Nội, 1937), Việt Nam Tây Thuộc Sử (Đỗ Phương Quế, Sài Gòn 1937), Đời Cách Mệnh Phan Bội Châu (Mai Lĩnh, Hà Nội, 1938) và tiếp thêm 30 Năm Nhật Bản Duy Tân (Đắc Lập, Huế 1935) góp thêm vào đường hướng gương xưa soi nay đó.

Ngoài ra còn có Trần Thanh Mại viết Trông Giòng Sông Vị (1935) nói về nhà thơ Trần Tế Xương, sách Tuy Lý Vưong (1938) rồi Nguyễn Triệu Luật với Bà Chúa Chè (Tân Dân, Hà Nội, 1938), Loạn Kiêu Binh (1939), Chúa Trịnh Khải (1940), Ngược Đường Trường Thi (1939). Lan Khai có Ai Lên Phố Cát (PTBNS 4-1937), Gái Thời Loạn (PTBNS số 20-1938. Trúc Khê có Cao Bá Quát (Tân Dân 1940) và Nguyễn Trãi (Tân Dân, 1941). Nhận định về chiều hướng của các nhà văn trên đây, nhà văn Lê Văn Siêu cho rằng “các tác giả đã gián tiếp cho ta thấy tinh thần của xã hội bắt đầu quay về với cái kiêu hãnh của dân tộc” và đặc biệt “tất cả quả thực đã không viết lịch sử vì sự thực lịch sử, mà viết là vì muốn hướng độc giả tin tưởng vào tương lai của dân tộc” [8].

Nếu trong lãnh vực sáng tác văn học đã có khuynh hướng tiến về chủ điểm dân tộc trong đó sự sống còn và tương lai của dân Việt đã được lưu tâm tới, thì trong phạm trù triết học về chính trị, một số chủ nghĩa quốc gia trong đó rõ nét nhất là chủ nghĩa Dân Tộc Sinh Tồn sẽ nói tới những giải pháp đấu tranh khả thi một khi đất nước bị lâm vào hiểm nguy như hoạ nội chiến hay ngoại xâm v.v. Tuy nhiên giai đoạn văn học Việt Nam 1932-1939 không chỉ có những đường nét dân tộc đó thôi mà còn với những chủ hướng đặc thù khác cũng được tổng quát hóa như sau.

Trước hết, đó là sự ra đời của một thể văn gọi là “văn đấu tranh cách mạng” do đa số là những nhà trí thức ở Nam Bộ du học ở Pháp vể như Nguyễn An Ninh, Phan Văn Hùm, Tạ Thu Thâu, Hồ Hữu Tường, Phan Văn Chánh, Huỳnh Văn Phương, Nguyễn Văn Tạo, Nguyễn Văn Số, Nguyễn Văn Nguyễn, Nguyễn Khánh Toàn, Trần Ngọc Danh, Hà Huy Giáp, Trần Văn Giàu v.v. Những người này đa số cho rằng chủ nghĩa quốc gia thuần tuý không thể đương cự nổi thế lực của đế quốc tư bản bởi vì đế quốc này có cả một thế lực quốc tế hỗ trợ. Vì thế các thuộc địa muốn giải phóng ắt phải nhờ cậy vào một lực lượng tổ chức quốc tế khác mới được. Những người này viết báo, diễn thuyết hoặc ra tranh cử vào các cơ chế dân cử ở Nam Kỳ đặc biệt là ở Sài Gòn với những phương pháp quen thuộc với phong cách tây phương nên chính quyền thuộc địa Pháp cũng không cản trở, thậm chí không bắt giam hoặc cầm tù họ. Người Pháp chỉ sợ các hành vi bạo loạn của các xu hướng quốc gia cực đoan như VNQDĐ ở ngoài Bắc. Văn chương đấu tranh cách mạng lan từ trong Nam ra ngoài Trung rồi tới Bắc bộ.

Trong lãnh vực triết học, đã xảy ra cuộc bút chiến vào năm 1933 giữa Phan Văn Hùm rồi sau đó thêm Hải Triều với Phan Khôi [9] trên Phụ Nữ Tân Văn về đề tài “Duy tâm hay Duy vật?” đưa ra hai lề lối nhận thức để tìm đạt tới chân lý. Một số nhà hoạt động chính trị như Phan Văn Hùm chẳng hạn đã đánh đồng phong kiến vào một với thực dân nên đã bị Phan Khôi dùng báo Công Luận (năm 1933) nêu rõ là “phong kiến Trung Hoa do chế độ phong tước và kiến địa từ thời Xuân Thu Chiến Quốc mà có, còn bên Âu-châu thì có vào thời Trung-cổ, riêng Việt-nam thì tước có phong, nhưng địa để kiến thì không có”. Vậy thì phong kiến là kẻ thù thật hay tưởng tượng? Trong thực tế, việc gói phong kiến cùng một gói với thực dân chỉ là một xảo thuật chính trị để lấy thêm người vào hàng ngũ chống đối, như nhận định của nhà văn Lê Văn Siêu tỏ ra xác đáng [10]. Tại miền Trung, Đào Duy Anh chủ trương “Quan Hải Tùng Thư” xuất bản những sách với kiến thức phổ thông theo quan điểm duy vật về kinh tế, xã hội, văn hóa do ông viết hoặc do các đồng chí của ông thuộc đảng Tân Việt viết trong khi bà Đào Duy Anh, nhũ danh Trần Thị Như Mân chủ trương một nhà xuất bản khác có tên “Nữ Lưu Tòng Thơ”, và phát hành một tạp chí có tên Phụ Nữ Tùng San chống đối những quan niệm khắt khe đối với người phụ nữ như tam tòng, tứ đức [11]. Các trào lưu tư tưởng mới lan tràn ra Hà Nội và quy tụ trên tờ báo Phụ Nữ Thời Đàm (1933) với một số nhà nho như Ngô Thúc Địch, Trịnh Đình Rư, có Phan Khôi cộng tác, được nhiều người chào đón và tiếp thu hết sức mau lẹ.

Nhận định về văn đấu tranh nêu trên, nhà văn Lê Văn Siêu cho biết “Ngoài một số bài báo hoặc ấn phẩm chỉ đáng kể về phương diện kỹ thuật tác động tâm lý quần chúng, gieo rắc căm hờn thù hận và thúc đẩy đấu tranh, có những công trình biên khảo đứng đắn, với những áng văn biện luận đanh thép và đúng phương pháp khoa học (nhưng là cái khoa học biện chứng duy vật), nó thấm sâu, thuyết phục, áp đảo và uy hiếp sự hiểu của người ta, nó bẻ queo công lý của mọi đối tượng nghiên cứu, và nó dẫn dắt độc giả vào những mê đồ, hết thế hệ người này đến thế hệ người khác… Người có chân chất nho học như Đào Duy Anh gốc miền Trung thì ôn tồn, phải chăng, đôi lúc dè dặt, mà không thiếu phần nhã độ của một nhà trí thức. Người hiền hậu nhưng bị thời cuộc gồng lên như Phan Văn Hùm gốc miền Nam thì có giọng văn cổ điển, mô phạm, và cuốn hút. Người thông minh như Hồ Hữu Tường thì viết khéo, rất duy vật ở chỗ không thực thà, rất biện chứng ở chỗ tuỳ theo chiều gió. Chân thành hơn cả là Tạ thu Thâu, đáng kính hơn cả là Nguyễn An Ninh” [12]. Những cây bút cột trụ cộng sản như Trường Chinh (lý thuyết gia của đảng CS, làm thơ ký bút danh là Sóng Hồng), Nguyễn Khoa Văn (tức Hải Triều), thậm chí Tố Hữu không được nhắc nhở đến có lẽ vì thuộc vào loại văn hét ra lửa, những kẻ muốn làm thánh tử đạo với hình ảnh của cô Passionnaria, người nữ kiệt của trận nội chiến Tây Ban Nha, đứng phất cờ đỏ trên đồi và nhất định chết với cờ, khi địch quân bắn lên từ tứ phía [13]. Trên báo Tiểu Thuyết Thứ Bảy số 41 (9-3-1935) Thiếu Sơn viết bài “Nghệ Thuật Với Đời Người” chủ trương rằng “Người nào biết sống với văn chương, trước hết phải biết giải phóng cho linh hồn, phải thoát ly hết thảy mọi thành kiến về luân lý, chính trị, tôn giáo, và chỉ biết có nghệ thuật thôi. Có người nói nghệ thuật là để làm việc cho đời…”. Hải Triều tức Nguyễn Khoa Văn vốn là một nhà văn tả phái, đã lập tức xung trận qua bài viết trên tờ báo Đời Mới ngày 24-3-1935 với nhan đề “Nghệ thuật vị nghệ thuật hay Nghệ thuật vị nhân sinh?”, phê bình quan điểm của Thiếu Sơn, tạo ra một cuộc tranh luận kéo dài từ đó cho đến năm 1939.

Sau hết phải kể đến một trào lưu văn học mới xuất hiện trên thi đàn Việt Nam, là phong trào thơ mới mà kiện tướng khai pháo là Phan Khôi với bài “Một lối thơ mới trình chánh giữa làng thơ” đăng trên Phụ Nữ Tân Văn số 122 (10-3-1932) và một bài thơ có tên Tình Già với những câu có vần nhưng không theo niêm luật nào cả. Phan Khôi cho rằng: “Thơ cốt chơn. Thơ cũ bị câu thúc quá nên mất chơn. Bởi vậy ông bày ra một lối thơ ‘đem ý thật có trong tâm khảm mình tả ra bằng những câu có vần mà không bó buộc bởi niêm luật gì hết’ và tạm mệnh danh là thơ mới” [14]. Thơ mới phá bỏ mọi niêm luật của thơ cũ nhất là thơ Đường, tứ tuyệt, ngũ ngôn cổ phong v.v. tạo một hướng đi mới cho cả một thế hệ nhà thơ trẻ đầy tài năng được ghi lại tên tuổi trong tác phẩm Thi Nhân Việt Nam của Hoài Thanh và Hoài Chân. Khi thơ mới vừa xuất hiện đã có nhiều người ủng hộ thơ cũ viết báo, diễn thuyết, phê bình, đả kích nhưng rồi thơ mới vẫn thắng thế.

Tuy nhiên quan trọng hơn cả có lẽ là sự xuất hiện của Tự Lực Văn Đoàn năm 1933 với bảy người: Nhất Linh, Khái Hưng, Thạch Lam, Hoàng Đạo, Tú Mỡ, Nguyễn Gia Trí và Thế Lữ (về sau có thêm một vài nhà văn khác như Đỗ Đức Thu cùng ba đoàn viên dự bị là Duy Lam, Tường Hùng và Nguyễn Thị Vinh) đã là một biến cố lớn trong lịch sử văn học Việt Nam. Chủ trương của Tự Lực Văn Đoàn là “họp những người đồng chí trong văn giới: người trong đoàn đối với nhau cốt có liên lạc về tinh thần, cùng nhau theo đuổi một tôn chỉ, hết sức giúp nhau để đạt được mục đích chung, hết sức che chở nhau trong những công cuộc có tính cách văn chương…” [15]. Tác giả Lê Đình Thông trong bài “Nhất Linh: Tự lực văn học, Tự lực chính trị”, cho biết: “Lấy tên Tự Lực là có ý họ tự sức mình gây lấy một cơ sở chứ không cậy nhờ bàn tay chính phủ hoặc một thế lực tài chính nào, do đó có tư cách độc lập, không tuân theo một chỉ thị nào, ngoài đường lối chính họ tự vạch ra” [16]. Một số quan điểm về cuộc sống của Nhất Linh, được tác giả Lê Đình Thông trích dẫn sau đây có lẽ cũng mang nhiều tính chất nhân bản biểu lộ khuynh hướng của một loại văn chương nhập thế: “Thực ra tôi không muốn một thứ hạnh phúc lấn lướt trên sự khổ cực của người khác. Nếu tôi bận quần áo bắt người khác phải trần truồng thì thà tôi chịu trần truồng còn hơn. (…) Tôi chỉ có hạnh phúc khi người khác thêm hạnh phúc. Tôi cần hạnh phúc của tất cả để tôi được hạnh phúc”. Tác giả này cho rằng một số tác phẩm của Nhất Linh ra đời kể từ 1932 tỏ ra gắn bó với André Gide về văn chương nhập thế [17]. Ý niệm này thật sự rất gần gũi với quan điểm Hỗ tương sinh tồn của chủ nghĩa Dân Tộc Sinh Tồn mà chúng ta sẽ đi vào biện giải ở phần sau.

2.- Về một số biến cố chính trị khơi mào cho sự xuất hiện một số chủ nghĩa của các chính đảng quốc gia

Trong lãnh vực chính trị rõ ràng đã không có tình trạng “trăm hoa đua nở” như trong phạm vi văn học.
Không như người Anh ở Ấn Độ, người Pháp ở Đông Dương chủ trương dùng bạo lực để đàn áp các nhà hoạt động cách mạng từ các phong trào Cần Vương, Duy Tân, Đông Du, theo dõi các tổ chức hội kín. Về vấn đề này, sử gia Nguyễn Thế Anh bày tỏ nhận định rằng: “Trước sự phát triển của phong trào quốc gia Việt Nam, chính quyền thuộc địa đã không bao giờ tìm một kẻ đối thoại có giá trị, theo kiểu đảng Quốc-Đại ở Ấn độ, mặc dầu ở Việt-Nam hiện diện một giới trí thức lãnh đạo chịu ảnh hưởng của Tây phưong và có đủ khả năng phát biểu nguyện vọng của dân Việt” [18]. Cũng trong tác phẩm vừa trích dẫn, giáo sư Nguyễn Thế Anh phê bình về chính sách cứng rắn của thực dân Pháp tại Việt Nam cho biết thêm: “Chính sách của chính phủ bảo hộ có một hậu quả không mấy tốt đẹp là nó khiến những phần tử ôn hoà từ bỏ hoạt động chính trị vì không muốn bị khó khăn với chính quyền; trái lại, những người không bị ràng buộc bởi những liên hệ hay quyền lợi xã hội lại hướng tới các phương pháp bạo động của sự đấu tranh bí mật nhiều hơn trước. Tình trạng này làm cho nước Việt Nam có nhiều cán bộ cách mạng hơn là chính trị gia, nghĩa là thiếu những nhân vật có khả năng nghiên cứu và giải quyết những vấn đề hành chánh quốc gia, một khi giành được độc lập” [19]. Điều này cũng dễ hiểu bởi vì, sau biến cố khởi nghĩa của VNQDĐ tại Yên Báy và một số tỉnh miền Bắc, Pháp đàn áp thẳng tay những người trong các hội kín với hệ thống chính quyền bản xứ và mật thám nên những người hoạt động chính trị trong mục tiêu lật đổ nền thống trị Pháp phải lui vào bí mật, che dấu hành tung của mình, giới hạn mọi tiếp xúc với người khác chỉ trừ các đường dây trong tổ chức.

Ở Sài Gòn và một số tỉnh Nam Kỳ, tình hình chính trị tương đối dễ chịu hơn và Nam Kỳ là thuộc địa của Pháp nên người dân ở đây một số vào quốc tịch Pháp, nhiều thanh niên trí con cái của các phú gia hoặc các đại điền chủ đều theo học các trường trung học Pháp tại đây hoặc được gửi sang Pháp du học cho nên họ thừa hưởng được tinh thần cởi mở và phóng khoáng của người dân mẫu quốc. Tinh thần quốc gia cực đoan của Trung Kỳ và Bắc Kỳ, ảnh hưởng của nền giáo dục Nho học qua nhiều thế hệ hầu như hiếm thấy ở Nam Kỳ. Đại đa số những thế hệ thanh niên Nam Kỳ đi du học Pháp về đều ngả theo chủ trương chính trị của Đệ Tam hay Đệ Tứ Quốc Tế. Các nhóm này đều có đưa người ra tranh cử vào Hội Đồng Thành Phố Sài Gòn trong những năm 1933-35 với hình thức vận động chung qua báo chí, bích chương, truyền đơn tranh cử và sau đó lại tách rời nhau đi đến chống báng nhau dữ dội. Hồ Chí Minh luôn luôn nhắc thủ hạ là phải tiêu diệt Đệ Tứ -thường đươc gọi miệt thị là “bọn Tờ-rốt-kít”. Hồ Chí Minh từng nhắc nhở cho bọn đàn em rằng: “Chúng ta không thể nhượng bộ điều gì cho nhóm Tờ-rốt-kít. Chúng ta phải lảm tất cả mọi việc có thể được để lột mặt nạ của chúng là những con chó của Phát-xít và tiêu diệt chúng về chính trị” [20]. Viết về sự ra đời của phe Đệ Tứ Quốc Tế, sử gia Phạm Văn Sơn cho biết: “Đồng thời (năm Bảo Đại về nước 1932) phái Đệ tứ Quốc tế ra đời ở Saigon, do Tạ Thu Thâu và Trần Văn Thạch lãnh đạo, hoạt động công khai bằng báo chí… Tưởng cũng cần phải nói cho rõ là năm 1930, Thâu là một trong số Sinh viên Việt Nam ở Pháp vì hoạt động chánh trị nên bị trục xuất, khi Thâu vừa đến Saigon thì đã bị phe Đệ tam của Dương Bạch Mai, Nguyễn Văn Tạo v.v. rải truyền đơn để hạ Thâu, gây hoang mang trong giới trí thức đang bắt đầu tìm hiểu về Thâu, một thanh niên có tài, một chiến sĩ lỗi lạc được đồng bào cảm mến.

Tháng 4/1932, có cuộc bầu cử Đại biểu Thượng Hội Đồng thuộc địa; một cuộc diễn thuyết được tổ chức tại rạp hát Tân Định, Tạ Thu Thâu lên diễn đàn được hoan nghênh nhiệt liệt. Từ đó đồng bào Saigon - Chợ Lớn biết rõ Thâu hơn qua các buổi diễn thuyết hằng tuần tại Trụ sở của Hội Đức dục và Trí dục (gọi tắt là Samipic) ở đại lộ Galliéni (bây giờ là Trần Hưng Đạo)
” [21]. Trong quá khứ cũng đã có cuộc thống nhất giữa hai phe Đệ Tam và Đệ Tứ để thành lập “Mặt Trận Vô Sản Thống Nhất”, đó là năm 1934 khi ba đảng viên Cộng Sản Pháp là Gabriel Péri, Vaillant Couturier và Barthel đến Saigon chỉ thị cho phe Đệ Tam của Dương Bạch Mai và Nguyễn Văn Tạo “liên hiệp” với phe Đệ Tứ của Tạ Thu Thâu để thành lập “Mặt trận vô sản thống nhất” xuất bản tờ báo La Lutte (Tranh đấu) bằng Pháp ngữ. Nguyên nhân sâu xa là vì lúc bấy giờ phe Đệ Tam chưa có người đủ tài để viết báo bằng Pháp ngữ. Ngày 4/10/1934, tờ La Lutte đầu tiên ra đời, đã gây được ảnh hưởng rất lớn trong các giới trí thức và công nhân ở Sài-gòn - Chợ Lớn [22]. Ở Huế, sau thời gian du học Pháp mười năm, Bảo Đại về nước và chính thức cầm nắm quyền bính vào tháng 3 năm 1932. Ông thay đổi các vị thượng thư và đưa vào nội các những thành phần trí thức, trẻ để điều hành sáu bộ ở hoàng cung. Trong cuốn hồi ký chính trị Sống Còn Với Dân Tộc, tác giả Hà Thúc Ký cho biết về cuộc cải tổ nội các đó như sau:

Đầu thập niên 1930, có nhiều thay đổi quan trọng về phía Nam Triều. Hoàng Đế Bảo Đại hồi loan vào ngày 8-9-1932. Người Pháp muốn đưa một số tay chân vào nội các nên lấy cớ cải tổ chính trị và hành chánh để thay thế các vị thượng thư trong triều. Hoàng Đế Bảo Đại đã cải tổ nội các, cho một loạt năm vị thượng thư về hưu vào ngày 2-5-1933. Hoài Nam Nguyễn Trọng Cẩn, quê ở Lộc Điền, nay là thôn Tân An, xã Quảng Thanh, huyện Quảng Trạch, tỉnh Quảng Bình, đã làm bài thơ trào phúng về cuộc cải tổ đột ngột đó:
Năm cụ khi không rớt cái ình!
Đất bằng nổi sóng dậy Thần Kinh.
Bài không đeo nữa đem dâng Lại,
Đàn chẳng ai nghe khéo hoạ Hình.
Liệu thế không xong Binh chẳng được,
Liêm đành giữ tiếng Lễ đừng rinh.
Công danh tới đó là hưu hỷ,
Đại sự xin nhường lớp hậu sinh.
(Các chữ đậm nét là tên các thượng thư về hưu và các bộ liên hệ: Nguyễn Hữu Bài - Bộ Lại, Tôn Thất Đàn - Bộ Hình, Phạm Liệu - Bộ Binh, Võ Liêm - Bộ Lễ, Vương Tứ Đại - Bộ Công) [23]. Tác giả Hà Thúc Ký cho biết thêm một số dữ kiện liên quan đến cuộc cải tổ nhân sự trong nội các này: “Nam Triều có nhiều bộ, mỗi bộ do một vị thượng thư đứng đầu, nhưng trong đợt cải tổ lần này chỉ có năm vị bị giải nhiệm. Riêng Thượng Thư Bộ Hộ Hồ Đắc Khải vẫn tiếp tục giữ ghế Thượng Thư Bộ Hộ. Dòng dõi Hồ Đắc Khải là một danh gia vọng tộc đất Thần Kinh. Ông Hồ Đắc Khải được cất nhắc lên làm Thượng Thư Bộ Hộ từ trước ngày Hoàng Đế Bảo Đại hồi loan, nay lại được lưu nhiệm và trọng dụng vì là con của cụ Hồ Đắc Trung, Thượng Thư Bộ Học dưới triều Vua Khải Định, rất được viên Khâm Sứ Charles tin dung, thanh thế một thời lừng lẫy. Trong đợt cải tổ lần này, triều đình bãi bỏ Bộ Binh và đặt thêm Bộ Kinh Tế và vị Thượng Thư Bộ này là Nguyễn Khoa Kỳ. Vị Thượng Thư Bộ Học dưới triều Vua Bảo Đại vào năm 1933 là Phạm Quỳnh. đến tháng 5-1942, Phạm Quỳnh lên giữ chức Thượng Thư Bộ Lại thì ông Thượng Thư Bộ Học kế vị là Trần Thanh Đạt” [24]. Trong cuốn hồi ký chính trị có tên Con Rồng Việt Nam, Cựu Hoàng Bảo Đại cũng viết về cuộc cải tổ nội các này như sau: “Ngày 10 tháng 12 năm 1932, tôi cho công bố một đạo dụ, loan báo ý định cầm quyền của tôi dưới hình thức quân chủ lập hiến, và cải tổ lại bộ máy cần phải chiếu cố trước tiên là ngành quan lại, ngành quốc gia giáo dục, và ngành tư pháp.

Lời tuyên bố ấy đã được dân chúng nhiệt liệt hoan nghênh, nhứt là đối với giới trẻ, đang muốn canh tân.

Sau lời tuyên bố ấy, ngày 2 tháng 5 năm 1933, lại một đạo dụ khác nhằm đặt cơ cấu của sự cải cách. Tôi xác nhận rằng, việc đầu tiên là chính tôi đảm nhiệm trực tiếp quyền lãnh đạo chính phủ. Sau đó, đến mọi cải cách quan trọng về tổ chức lại chính quyền. Không có chức Thủ tướng, cũng không có chức Thượng thư bộ Lại vì không thực tế, do tất cả các binh sĩ, khố xanh, cũng như khố đỏ, hay cảnh sát đều nằm trong tay chính phủ Pháp.

Tôi cho vời một viên quan tỉnh trẻ tuổi nhứt là Ngô Đình Diệm, lúc ấy làm Tuần vũ tỉnh Phan Thiết, để đảm trách bộ Lại. Vốn dòng quan lại, anh ruột ông ta làm Tổng đốc tỉnh Faifo. Diệm năm ấy mới 31 tuổi, nổi tiếng là thông minh, liêm khiết. Đây là một người quốc gia bảo thủ. Ngoài chức vụ Thượng thư, Ngô Đình Diệm lại còn là Tổng thư ký cho Hội đồng Hỗn hợp về canh tân đã được ban bố năm trước, bao gồm các thượng thư Việt Nam và hàng công chức cao cấp Pháp. Ngô Đình Diệm được Nguyễn Hữu Bài trước khi về hưu, tiến cử.

Tôi lại giao bộ Hình (Tư pháp) cho một người Bắc là Bùi Bằng Đoàn, vốn là quan lại, có bằng luật khoa, đã 51 tuổi.

Tương lai có nhiều hứa hẹn tốt đẹp. Tôi nghĩ rằng không nên mạnh tay quá, nếu không muốn bị chung số phận của mấy vị tiên đế hẩm hiu trước. Tôi đặt hết niềm tin vào đôi xe Phạm Quỳnh/Ngô Đình Diệm này. Ngô Đình Diệm tỏ ý chỉ nhận chức Thượng thư với điều kiện được cải tổ xã hội Việt Nam. Tiếng tăm của ông ta làm tôi tin rằng ông ta có thể tiến nhanh được. Vị trí của Phạm Quỳnh kín đáo vốn được sự yểm trợ của chính phủ Pháp, sẽ giúp cho công cuộc cải cách được dễ dàng
” [25].

Nhưng quan trọng hơn cả trong lãnh vực chính trị là tình hình ở Pháp có liên quan đến thực trạng chính trị ở tại Việt Nam và Đông Dương mà lúc bấy giờ để xoá đi danh từ Việt Nam người Pháp đã gọi xứ này là Xứ Đông Pháp. Như thế là cái tên Việt Nam đã biến mất trên bản đồ thế giới và người Việt Nam đã mất quê hương mặc dù còn sống trên đất nước của mình. Đến như Phạm Quỳnh mà cũng phải có lần thốt lên: “Chúng tôi là một dân tộc đương đi tìm tổ quốc mà chưa thấy tổ quốc ở đâu” [26].

Năm 1936, Mặt Trận Bình Dân (Front Populaire) của Léon Blum lên cầm quyền ở Pháp. Mặt Trận Bình Dân là gì? Trong tác phẩm Quân Dân Việt Nam Chống Tây Xâm (1847-1945) tức cuốn Quân Sử III, sử gia Phạm Văn Sơn cho biết: “Cuộc khủng hoảng kinh tế thế giới vừa chấm dứt, các nước tư bản đã đến lúc phải gây chiến tranh để giành giựt, phân chia thị trường và chuyên chính một cách công khai… Mở màn cho chính quyền phát xít là nhóm Mussolini ở Ý, nhóm Horthy ở Hung, nhóm quốc xã do Hitler cầm đầu ở Đức. Hoạ chiến tranh đe doạ trước mắt…

Trước sự biến đổi lớn lao ấy, Đệ tam quốc tế nhận định rằng cần phải chĩa mũi nhọn vào các nhóm nói trên và duy trì hoà bình…

Vào khoảng tháng 7/1935, Quốc tế Cộng sản họp lần thứ 7 tại Moscou gồm có đại biểu của 64 chi bộ đến tham dự (Đại biểu của chi bộ Đông Dương là Lê Hồng Phong). Trong kỳ đại hội này một chủ trương được đề ra là giai cấp vô sản phải tập họp những phần tử tiến bộ (theo kiểu cộng sản), dân chủ để lập mặt trận Bình dân ở mỗi nước mà nhiệm vụ là chống phát xít, chống chiến tranh, đòi cơm áo, tự do và hoà bình…

Riêng tại Pháp, hồi ấy, cuộc khủng hoảng kinh tế, chính trị trong nước và làn sóng phát xít quốc tế đã gây mầm phát xít ở Pháp. Tháng 2/1934 bọn “Croix de feu” (thập tự lửa) của De la Roque âm mưu một cuộc chính biến… Đảng Cộng sản Pháp liền kêu gọi nhân dân Pháp đoàn kết chống lại tay sai phát xít Quốc tế…

Sau đại hội Quốc tế Cộng sản lần thứ 7 nói trên, Đảng Cộng Sản Pháp thi hành lệnh của Đệ Tam Quốc Tế, ra sức vận động thành lập Mặt Trận Bình Dân, để chống Phát xít… (gồm Cộng Sản Đệ Tam, Đảng Xã Hội và Đảng Cấp Tiến Pháp).

Đến năm 1936, ba đảng nói trên đã thắng trong cuộc tuyển cử (3-3-1936) và do đó chính phủ Mặt Trận Bình Dân được thành lập…
” [27]. Mặt Trận Bình Dân ở Pháp lên cầm quyền với Léon Blum làm Thủ Tướng, Marius Moutet, một đảng viên Xã Hội được cử làm Tổng Trưởng Thuộc địa. Marius Moutet liền đánh điện cho Pierre Pasquier, Toàn Quyền Đông Dương đại ý nói rằng: “Chánh phủ Mặt Trận Bình Dân Pháp muốn làm thoả mãn các tầng lớp dân chúng ở thuộc địa, nên định mở rộng sự thăm dò nguyện vọng của toàn dân. Chánh phủ luôn luôn khoan hồng đại xá các chánh trị phạm. Sau khi biết rõ nguyện vọng của dân tộc ở thuộc địa, chánh phủ sẽ cải thiện đời sống của họ. Thủ-hiến các thuộc địa ban bố lệnh này cho dân chúng hiểu rõ ý muốn của chánh phủ Mặt Trận Bình Dân. Nhân dịp thăm dò rộng rãi này, nên nói cho các sắc dân biết mục đích chính sách xã hội của chánh phủ Pháp. Thủ-hiến các nơi thâu thập tất cả nguyện vọng đưa về chánh quốc, một uỷ ban sẽ nghiên cứu thận trọng” [28]. Tại Việt Nam, các chính trị phạm được thả ra trong đó có rất nhiều đảng viên đảng Cộng Sản Đông Dương. Vào mùa hè năm 1936, Đảng Cộng Sản Đông Dương họp đại hội lần thứ nhất đã đưa ra một tổ chức mới có tên Mặt Trận Nhân Dân Phản Đế để dễ bề hoạt động rồi sau đó đổi tên là Mặt Trận Thống Nhất Dân Chủ gọi tắt là Mặt Trận Dân Chủ Đông Dương. Mặt Trận này hoạt động theo chỉ thị của Liên Xô, tạm thời không nêu khẩu hiệu “đánh đổ đế quốc Pháp” và khẩu hiệu “tịch thu ruộng đất của địa chủ chia cho dân cày” sợ mất lòng Đảng Cộng Sản và Đảng Xã Hội Pháp vì hai đảng này chưa muốn giải phóng thuộc địa. Nhiều báo chí do các cây viết Cộng Sản hay thiên tả kể cả quốc gia dân tộc xuất hiện ở khắp nơi tạo nên một làn sóng tự do ngôn luận ở ba xứ Việt Nam.

Trong môi trường khá thuận lợi đó, năm 1936 Đảng Trưởng Trương Tử Anh thai nghén chủ nghĩa Dân Tộc Sinh Tồn, và hai năm sau, ngày 18-12-1938, ông công bố chủ nghĩa làm điểm tựa cho công cuộc đấu tranh của một tổ chức chính trị có tên Đại Việt Quốc Dân Đảng.

3.- Chủ nghĩa Dân Tộc Sinh Tồn và hiện thực đất nước

Mặc dầu Trương Tử Anh có những tư duy về chủ nghĩa Dân Tộc Sinh Tồn trong một giai đoạn lịch sử vốn là thịnh thời của các chủ nghĩa khác như chủ nghĩa phát-xít của Ý, chủ nghĩa siêu tộc của Đức, và như một số tư liệu lưu hành trong nội bộ Đại Việt cho biết, Trương Tử Anh có thiên hướng về lãnh tụ chế, về tính vị kỷ tức dựa vào cá nhân mình, nhưng ông vẫn cho rằng các lý thuyết ra đời trước ông đều không đáp ứng được các mục tiêu cơ bản trong việc xây dựng và phát triển đất nước, nhất là vấn đề phòng ngự ngoại xâm.

3.1. Truyền thống lịch sử Đại Việt, cốt lõi của chủ nghĩa Dân Tộc Sinh Tồn

Không biết do một sự sắp xếp khôn ngoan và không kém hợp lý nào mà khi gọi một số chính đảng quốc gia xuất hiện tại Hà Nội trong khoảng thời gian 1939-1945 như Đại Việt Quốc Xã Đảng của Nguyễn Xuân Tiếu (tức Tiếu Rùa hay Nguyễn Lý Cao Kha) thì gọi là Quốc Xã, Đại Việt Dân Chính Đảng của Nguyễn Tường Tam là Dân Chính, Đại Việt Duy Dân Đảng của Lý Đông A (tức Nguyễn Hữu Thanh) là Duy Dân, nhưng riêng với Đại Việt Quốc Dân Đảng của Trương Tử Anh người ta vẫn thường gọi tắt là Đại Việt, quốc hiệu đã có lịch sử hơn một nghìn năm kể từ thế kỷ XI cho đến ngày hôm nay. Trong bản Tuyên Ngôn 1939, Đảng Trưởng Trương Tử Anh đã giải thích đảng danh như sau: “Hai tiếng Đại-Việt nêu cao cái ý chí tự cường tự lập và cái hùng khí muốn cho quốc gia mạnh lên và phồn thịnh mãi” [29]. Quốc hiệu Đại Việt có một truyền thống lịch sử khởi đi từ năm 1054 dưới thời nhà Lý Thánh Tông (1054-1072) cho đến đầu thời Gia Long (1802-1820). Hai chữ Đại Việt do sáng kiến từ trong tâm thức của vua Lý Thánh Tông không thể không mang ý nghĩa xa xôi của triết lý nhà Phật qua các chữ đại hùng, đại lực, đại từ bi mà các vị tiên tổ của ông là Lý Công Uẩn đã từng tiêm nhiễm khi còn là con nuôi của nhà sư Lý Khánh Vân. Lý Thánh Tông là một ông vua nhân từ. Sách Đại Việt Sử Ký Toàn Thư có chép: “Mùa đông, tháng 10 [1055] đại hàn, vua bảo các quan tả hữu rằng: “Trẫm ở trong cung, sưởi than xương thú, mặc áo long chồn còn rét thế này, nghĩ đến người tù bị giam trong ngục, khổ sở về gông cùm, chưa rõ gian ngay, ăn không no bụng, mặc không kín thân, khốn khổ vì gió rét, hoặc có kẻ chết không đáng tội, trẫm rất thương xót. Vậy lệnh cho Hữu ty phát chăn chiếu, và cấp cơm ăn ngày hai bữa” [30]. Sử thần Ngô Sĩ Liên nhận xét rằng: “Xót thương vì hình ngục, nhân từ với nhân dân, là việc đầu tiên của vương chính” [31]. Vương chính hay vương đạo đó là truyền thống lịch sử của dân tộc Đại Việt, cốt lõi của tinh thần đấu tranh người sĩ phu quốc gia đã tiếp thu trong nhận thức của mình.

Truyền thống lịch sử của Đại Việt là truyền thống đoàn kết và điều này đã được tác giả Nguyễn Ngọc Huy nhắc lại trong tác phẩm Chủ Nghĩa Dân Tộc Sinh Tồn như sau: “Khi tổ quốc bị nạn ngoại xâm, người ta thường bỏ những hiềm thù cá nhơn để cùng mưu toan cứu nước. Hai ông Trần Quốc Tuấn và Trần Quang Khải đã gác qua một bên sự hờn ghét nhau và cộng tác nhau một cách chặt chẽ để đối phó lại giặc Nguyên. Năm 1914, lúc quân Đức xâm nhập biên thùy Pháp, những chánh đảng Pháp đã chấm dứt mọi cuộc tranh chấp với nhau và lập nên mặt trận thống nhứt thiêng liêng để tổ chức sự chiến đấu chống Đức” [32]. Trong cuốn hồi ký Sống Còn Với Dân Tộc, tác giả Hà Thúc Ký có viết: “Một hôm, đang hồi trò chuyện sôi nổi, có mặt anh Nguyễn Tài Chất, anh Sung bỗng dưng quay sang hỏi quan điểm của tôi về quốc hiệu nước ta, so sánh các danh xưng Đại Việt, Đại Nam, Việt Nam. Tôi thấy anh tỏ vẻ vui tán đồng ý kiến của tôi cho rằng danh xưng Đại Việt là thích đáng hơn hết, vừa là quốc hiệu đã có từ thời Lý Trần, vừa bao hàm ý nghĩa độc lập tự cường không lệ thuộc vào nước láng giềng phương Bắc. Lúc bấy giờ, tại Hà Nội, quân Lư Hán hằng ngày lũ năm lũ bảy đi lại ngoài phố, cử chỉ lố lăng, thái độ ngạo mạn, giới trẻ chúng tôi rất bất bình. Nhân đấy, anh Đặng Văn Sung kể cho tôi nghe câu chuyện giữa Khuyển Dưỡng Nghị và Tôn Dật Tiên bàn luận về bản chất dân tộc Việt Nam, rồi lan man nói đến chuyện cầu viện nước ngoài. Đành rằng nước ta nhược tiểu, muốn độc lập cần phải có sự hỗ trợ của các nước lớn, nhưng chúng ta luôn luôn phải biết tự lực tự cường, trông cậy vào sức mình là chính. Dân tộc nào cũng ưu tiên đặt quyền lợi dân tộc họ lên trên hết. Những điều anh Sung nói ra, tôi rất lấy làm tâm đắc” [33]. Nếu để tâm lưu ý chúng ta sẽ thấy có sự tương đồng trong tư tưởng giữa vị sáng lập Đại Việt Quốc Dân Đảng thể hiện trong Tuyên Ngôn 1939 với những lời tác giả Hà Thúc Ký, Chủ tịch sáng lập Đại Việt Cách Mạng Đảng ghi lại trong hồi ký Sống Còn Với Dân Tộc khi hai vị đều nhấn mạnh đến tinh thần tự lực, tự cường, phản ánh tư cách của những nhà hoạt động cách mạng theo chủ nghĩa dân tộc chân chính.

Sự xuất hiện của một số chính đảng quốc gia trong hoàn cảnh Việt Nam trước Thế Chiến II như Quốc Xã, Duy Dân, Dân Chính với các chủ nghĩa chỉ lưu hành trong nội bộ của tổ chức, thật cũng khó mà tìm hiểu được thực chất của các nguồn tư tưởng chính trị đó.

Có giai thoại cho biết khi Lý Đông A hỏi cụ Phan Bội Châu về một chủ nghĩa cần thiết cho dân tộc, cụ Phan trả lời: “Dân chẳng duy tâm, cũng chẳng duy vật. Dân chỉ duy dân”. Trong tác phẩm Triết Lý Lý Đông A, triết lý tổng thể duy nhân, tác giả Phạm Khắc Hàm cho biết: “
“Là một nhà cách mạng nhưng bản chất là một nhà thơ, một nhà tư tưởng, Lý Đông A tiên sinh nhận thức điều đó rõ ràng hơn ai hết và đó là lý do mà Ông đã duyệt xét lại, đánh giá lại toàn bộ vấn đề tri thức. Kết quả là một học thuyết mà chúng ta gọi là triết lý Lý Đông A. Học thuyết này tập đại thành mọi trường phái triết học, thống nhất ba ngành tri thức là Khoa, Triết, Sử để thiết lập một ý thức hệ hướng thượng, nhân bản, nhân chủ và nhân tính, mà ta gọi là triết lý tổng thể duy nhân hoặc triết lý Lý Đông A
” [34]. Về đảng Quốc Xã của Nguyễn Xuân Tiếu tức Tiếu Rùa hay Nguyễn Lý Cao Kha thấy nói theo chủ nghĩa Duy Trung Tâm Vật (?).

Về chủ nghĩa của Đại Việt Dân Chính, bác sĩ Nguyễn Tường Bách cho biết: “Anh (tức Nguyễn Tường Tam) đã dựa vào Đồng minh và đưa tổ chức cũ sáp nhập vào Việt Nam Quốc Dân Đảng. Nhưng tôi xem ra anh không thấy hứng thú lắm với chủ nghĩa tam dân. Chủ trương cùa anh giống anh Long, tán thành chủ nghĩa dân chủ, xã hội theo lối Tây phương” [35].

3.2. Từ chủ nghĩa Dân Tộc đến chủ nghĩa Dân Tộc Sinh Tồn

Trong thời gian gần đây, giới nghiên cứu sử học có đề cập đến chủ nghĩa dân tộc (nationalism) nói chung và cho rằng đây là một hiện tượng phát sinh sau khi Chiến tranh Lạnh (The cold war) chấm dứt. Một số tác giả sau đây đã có những công trình nghiên cứu về chuyên đề này: Vũ Tường với bài “Lời dẫn - Từ giải phóng đến giải pháp, giải độc và giải hoà: Phong trào dân tộc mới ở châu Á”; Lê Hải với bài “Chủ nghĩa dân tộc - Một tiến trình lịch sử của văn hoá”; Thân Tứ Long viết “Qua diễn biến của chủ nghĩa dân tộc cận đại Việt Nam đến nay, nhìn nhận tác dụng hai chiều của chủ nghĩa dân tộc” (Hồng Tuấn dịch); George Orwell với bài “Ghi chú về chủ nghĩa dân tộc” (Trịnh Lữ dịch); Choe Sang-Hun với bài “Hàng xuất cảng mới nhất của Nam Hàn: Mẫu tự”; Christopher E. Goscha với bài “Tái cấu trúc các mối quan hệ thời kỳ thuộc địa: Quan hệ liên Á ở Đông Dương thuộc Pháp giai đoạn giữa 2 cuộc thế chiến”; Jerry Z. Muller với bài “Ta và chúng - sức mạnh trường tồn của chủ nghĩa dân tộc” (Trần Ngọc Cư dịch); Charles Keith với bài “An Nam vùng lên: Những vị giám mục đầu tiên của Việt Nam và sự hình thành giáo hội dân tộc, giai đoạn 1919-1945”; Kenneth T. So và Sophal Ear với bài “Yuon và người Việt: điều gì trong một tên ngoại dụng?” (Phạm Văn lược dịch); Nghê Hiểu Hà với bài “Phân tích các nguyên nhân dẫn đến chủ nghĩa li khai dân tộc ở Tây Nguyên Việt Nam” (Hồng Tuấn dịch); Samuel Chi với bài “Chủ nghĩa dân tộc Trung Hoa đẻ ra óc kỳ thị chủng tộc kiểu Trung Hoa” (Trần Ngọc Cư dịch); Trần Anh với bài “Chủ nghĩa quốc gia của chánh quyền Đệ Nhứt Cộng Hoà, 1954-1963”; Vũ Tường với bài “Ngày nay, Cách mạng Đông Dương phải “hiện nguyên hình”: Bước ngoặt dẫn đến đấu tranh giai cấp và nội chiến Việt Nam vào năm 1948” (Nguyễn Việt dịch) [36]. Các tác giả này đã đề cập đến chủ nghĩa dân tộc ở Việt Nam, Trung Hoa, Campuchia, Indonesia, Úc, Hàn Quốc v.v., phân tích khá cặn kẽ về các phạm trù triết lý, lịch sử, kinh tế, văn hoá, chính trị, ngôn ngữ, nguồn gốc của cái chủ nghĩa xem ra vốn cũ nhưng lại là rất mới này.

Dưới đây chúng ta sẽ thử tìm hiểu quan điểm của một số nhà nghiên cứu về chủ nghĩa dân tộc để tìm ra những điểm tương hợp của nó với chủ nghĩa Dân Tộc Sinh Tồn của Đại Việt và nhất là vị trí của chủ nghĩa Dân Tộc Sinh Tồn, tính cách khả thi của nó trong hoàn cảnh Việt Nam hiện tại.

Viết về chủ nghĩa dân tộc, Thân Tứ Long, một tác giả Trung Quốc, nhấn mạnh đến quá trình lịch sử của nó, chính sách thực hiện và mục tiêu chính trị của nó như sau: “Chủ nghĩa dân tộc trước thế kỉ 20 bị giai cấp tư sản tận dụng và nắm giữ, trở thành công cụ đắc lực mà Châu Âu sử dụng nhằm tranh đoạt không gian sinh tồn, chia cắt phạm vi quyền lực. Bước vào thế kỉ 20, dân các nước ở Châu Á, Phi, Mỹ Latin nhanh chóng thức tỉnh, giương cao ngọn cờ chủ nghĩa dân tộc, phản đối chủ nghĩa đế quốc và chủ nghĩa thực dân, kiên quyết bảo vệ chủ quyền của mình. Theo cách đó, chủ nghĩa dân tộc đã trở thành vũ khí tư tưởng để các dân tộc nhược tiểu phản đối “chủ nghĩa đại dân tộc” và “chủ nghĩa Chauvin nước lớn”, đấu tranh giành độc lập và bình đẳng.

Tuy chủ nghĩa dân tộc dù ở bất kì hoàn cảnh nào cũng có tác dụng và ý nghĩa trong việc phản đối nước lớn nước mạnh từ bên ngoài đến xâm lược và áp bức dân tộc, nhưng hạt nhân của nó lại là chủ trương đặt dân tộc mình vào vị trí ưu việt hơn, quan trọng hơn so với các dân tộc khác. Người thống trị luôn luôn sử dụng chủ nghĩa dân tộc để che đậy và xoá bỏ sự đối lập giai cấp và mâu thuẫn giai cấp sâu sắc, về đối nội thì đẩy mạnh áp bức dân tộc và đồng hoá dân tộc, về đối ngoại thì thực thi bành trướng xâm lược và chủ nghĩa Chauvin nước lớn. Chủ nghĩa dân tộc liên quan tới bạo lực và bành trướng xâm lược, nó khuyếch đại quá mức lợi ích của dân tộc mình, áp đặt quan điểm giá trị và thể chế chính trị của mình lên các dân tộc khác mà không quan tâm tới nguyện vọng và quyền lợi của họ
”.

Đối với Việt Nam sau 1975, tác giả Thân Tứ Long cho biết: “Sau khi chiến tranh chống Mỹ cứu nước thắng lợi, lòng tự tin dân tộc của Việt Nam tiếp tục được tăng cường, tinh thần dân tộc chủ nghĩa càng dâng cao. Rốt cuộc thì một nước nhỏ và yếu ở châu Á đã đánh bại nước Mỹ - cường quốc số một trên thế giới. Điều đó cũng khiến cho tập đoàn thống trị Việt Nam bắt đầu phát trương đầu óc, tự kiêu tự đại, bắt đầu đi đến cực đoan. Lê Duẩn dù làm Tổng bí thư Đảng Cộng sản Việt Nam nhưng trên thực tế lại là một nhà dân tộc chủ nghĩa cực đoan. Ông ta chịu ảnh hưởng sâu sắc từ truyền thống không ngừng mở rộng biên giới lãnh thổ của các vương triều phong kiến Việt Nam, lại kế thừa cái “y bát” Liên Bang Đông Dương mà nhà cầm quyền thực dân Pháp xây dựng trước đó, nên về đối ngoại đã đẩy mạnh chủ nghĩa khuyếch trương dân tộc Đại Việt, mang dã tâm khuyếch trương đối với các nước Campuchia, Thái Lan, Lào, Trung Quốc…” [37]

Dưới con mắt quan sát của nhà nghiên cứu Vũ Tường, chủ nghĩa dân tộc được nhìn dưới hai giai đoạn: chủ nghĩa dân tộc (cũ) với sứ mệnh giải phóng và chủ nghĩa dân tộc (mới) với nguyên nhân ra đời.

Đối với chủ nghĩa dân tộc (cũ), tác giả này nhắc đến Anderson và Ernest Gellner và cho rằng “chủ nghĩa dân tộc như một trào lưu tích cực có tính giải phóng con người. Họ không sai: chúng ta biết tư tưởng dân tộc đã góp phần thay đổi xã hội châu Âu từ phong kiến cát cứ thành nhà nước công dân. Phong trào giải phóng dân tộc đem đến tự trị ở hầu hết các nước Á Phi sau Thế chiến thứ hai. Nhưng tư tưởng dân tộc bành trướng ở châu Âu cũng dẫn đến việc xâm chiếm và nô dịch các dân tộc thuộc địa.. Thế chiến thứ hai cũng chứng kiến việc Đức Quốc Xã tàn sát người Do Thái và việc Liên Xô cưỡng chiếm Ba Lan - cả hai đều nhân danh quốc gia hay chủng tộc”. Tuy nhiên, tác giả Vũ Tường cho biết thêm “với thời gian, khi các đế quốc lớn đã tan rã, khi tất cả các dân tộc lớn đã có nhà nước riêng, khi biên giới quốc gia đã trở nên khó thay đổi, và khi dân chúng đã chán ngán việc chém. giết, phong trào giải phóng dân tộc đang mất dần tính cấp thiết của nó… Cái chủ nghĩa dân tộc làm mưa làm gió một thời trên vũ đài thế giới trong suốt 200 năm kể từ Cách mạng Pháp đã chuyển vào những vùng biên địa, chỉ còn khuấy động những dân tộc thiểu số” [38]. Về chủ nghĩa dân tộc (mới) thì có ba nguyên nhân tạo ra phong trào này:

Thứ nhất, sự trỗi dậy gần như đồng loạt của chủ nghĩa dân tộc mới ở Đông và Đông Nam Á từ đầu thập niên 1990 đến nay khiến nhiều sử gia [ví dụ Sheila Miyoshi Jager] cho rằng phong trào này có liên quan đến việc Chiến tranh Lạnh chấm dứt. Họ giải thích rằng khi còn Chiến tranh Lạnh chủ nghĩa dân tộc bị hai chủ nghĩa Tự do và Cộng sản kiềm chế. Nhưng khi Chiến tranh Lạnh kết thúc với sự tan rã của khối xã hội chủ nghĩa, chỉ còn lại khối Tự do cũng muốn ve vãn các chế độ cộng sản còn lại để tìm nguồn công nhân rẻ và dễ bóc lột. Nhiều nhà lãnh tụ Trung Quốc và Việt Nam cũng khó mở mồm huyênh hoang về tương lai chủ nghĩa xã hội trong khi dân chúng và trí thức không còn thiết tha với ý thức hệ - ngược lại, trí tưởng tượng của họ hướng đến những cộng đồng chính trị dựa trên những mối liên hệ khác, trong đó nổi bật là dân tộctôn giáo.

Thứ hai, phong trào dân tộc mới ở châu Á xuất hiện là vì sự phát triển mạnh mẽ của Trung Quốc trong ba thập kỷ vừa qua. Sự phát triển này gây lo ngại không chỉ cho siêu cường Mỹ mà cho các lân bang của Trung Quốc. Những lân bang yếu hơn của Trung Quốc như các nước Đông Nam Á và Úc lại càng lo ngại - đặc biệt là khi Trung Quốc đã có nhiều cử chỉ bá quyền nước lớn trên biển và trên trường ngoại giao quốc tế. Trung Quốc tuy có nhiều “láng giềng hữu nghị” như Bắc Triều Tiên, Việt Nam, Cam Bốt, Myanmar và Singapore, đã khiến cho phong trào bài Trung Quốc không đến nỗi lan rộng. Nhưng cả ở những nơi này, những biểu hiện dân tộc chống trung Quốc cũng diễn ra ngấm ngầm như ở Singapore hay Việt Nam.

Thứ ba, tự do hoá chính trị là nguyên nhân tạo ra phong trào dân tộc mới. Tác giả Vũ Tường cho biết: “Ở Hàn Quốc, Đài Loan và Indonesia, dân chủ đã chiến thắng độc tài. Sự tham gia rộng rãi của quần chúng vào vận động chính trị buộc nền chính trị phải thể hiện phần nào ước muốn của họ. Ở Hàn Quốc, đó là ước muốn thống nhất và bớt lệ thuộc vào Mỹ. Ở Đài Loan, ước muốn đó là một đảo quốc độc lập tách rời khỏi Trung Quốc do người bản xứ Đài Loan, không phải di dân từ Trung Hoa lục địa, cầm quyền. Ở Indonesia, đó là ước muốn phát triển đạo Hồi và ủng hộ các dân tộc đạo Hồi được xem là bị các nước Tây phương áp bức. Mặc dù ước muốn của cử tri không thống nhất và cố định (sự kiện đảng bảo thủ của Tổng thống Lee Myung-bak thắng cử ở Hàn Quốc, Quốc dân đảng của Tổng thống Mã Anh Cửu thắng cử ở Đài Loan, và các đảng Hồi giáo thu được ít ủng hộ ở Indonesia gần đây), phong trào dân tộc vẫn âm ỉ”.

Nhận định về chính sách ngoại giao của Việt Nam, tác giả Vũ Tường cho rằng “Khác với Trung Quốc, cải cách kinh tế ở Việt Nam vừa mới bắt đầu khi trục Moscow-Hà Nội-Nam Vang tan vỡ. Do hoang mang sợ hãi, Việt Nam đã tìm sự che chở của Trung Quốc là đồng minh quân sự và ý thức hệ cũ. Mặc dù trên thế giới nhiều người nghĩ đến Việt Nam như một biểu tượng của “độc lập”, Việt Nam có chủ quyền nhưng chưa bao giờ thực sự là một quốc gia độc lập. Chế độ thuộc địa được thay thế sau năm 1954/1975 bằng sự lệ thuộc nặng nề cả về ý thức hệ lẫn quân sự vào khối Xô Viết. Các cuộc tấn công can thiệp của Mỹ vào Panama (1989), Iraq (1991), Kosovo (1999), Afghanistan (2001) và Iraq (2003) làm cho Hà Nội càng bám chặt Bắc Kinh hơn vì sợ bị Mỹ đánh” [39].

So sánh với những điều mang tính nội dung của chủ nghĩa dân tộc nói trên, chủ nghĩa Dân Tộc Sinh Tồn không phải là một chủ nghĩa dân tộc cực đoan mang tham vọng bành trướng, bá quyền nhưng là một chủ nghĩa dân tộc dung hợp (modéré, bao dung và hoà hợp). Mục tiêu của chủ nghĩa chỉ là mưu sự sinh tồn cho dân tộc giữa những điều kiện khó khăn của đất nước và nhất là khi thế lực cầm quyền bên trong và kẻ thù xâm lược bên ngoài đang đe doạ sự sống còn của dân tộc.

3.3. Những viễn kiến chính trị của chủ nghĩa Dân Tộc Sinh Tồn

Trước hết cần phân biệt giai cấp thống trị và đại khối dân tộc Việt Nam là tầng lớp giai cấp bị trị hiện nay để thấy rằng chủ nghĩa Dân Tộc Sinh Tồn có những điều khoản ứng dụng rất thiết thực để mưu sự sống còn cho đại bộ phận dân tộc vừa nói.

Tuyên Ngôn Đại Việt Quốc Dân Đảng 1939 có vạch rõ rằng: “Chỉ có ta mới thực sự vì sự sống còn, vì hạnh phúc của ta mà thôi. Ỷ lại vào người, tin vào người là dắt nhau vào con đường diệt vong” [40]. Đây là một nguyên lý tuyệt đối trong ứng xử mà bất cứ thời đại nào,dù bất kể không gian nào cũng đểu phải được tôn trọng. Châm ngôn của phương Tây có nói: “Anh hãy tự giúp anh đi rồi Trời sẽ giúp sau” (Aide-toi le Ciel t’aidera). Tư tưởng này đánh đổ ý niệm ỷ lại hay dựa cậy vào người khác vốn làm con người mất sáng kiến và tiếp đó mất luôn tự do.

Nói đến tính ỷ lại phải được coi đó là một chính sách của đảng Cộng Sản Việt Nam mà người sáng lập là Nguyễn Ái Quốc tức Hồ Chí Minh, đã thể hiện từ những năm 20 của thế kỷ 20 cho đến về sau.

Về tiền bạc, tính ỷ lại xuất hiện khi Hồ Chí Minh cam tâm làm tay sai cho Quốc tế vô sản khi ông nhận tiền lương của Đảng Cộng Sản Pháp, và khi trở thành nhân viên của Đệ Tam Quốc Tế, làm việc cho Đông Phương Bộ của Liên Xô, từ năm 1930 nhận tiền hàng tháng đều đặn của LX để điều hành công tác của Đảng Cộng Sản Đông Dương. Trong bài “Cái đúng và cái giả dối về chuyện Hồ Chí Minh” đăng trong sách Hồ Chí Minh, Sự thật về Thân thế & Sự nghiệp, tác giả Tôn Thất Thiện cho biết trong chuyến đi từ Pháp qua Mạc Tư Khoa năm 1923, Hồ Chí Minh “đã nhận của đảng Cộng Sản Pháp 1.000 quan để chi phí. Vào thời đó là một số tiền lớn (một sinh viên có thể sống trong năm tháng). Ở Đức nó lại càng trở nên lớn hơn vì lạm phát nhảy vọt hoành hành nước này” [41]. Người Pháp có câu “Qui paye, gouverne”. Câu này ngụ ý rõ rằng lãnh tiền của ai thì phải làm việc cho người đó, cũng giống như câu ngạn ngữ Việt Nam: “Ăn cơm chúa, múa tối ngày”.

Trong tác phẩm Hồ Chí Minh tại Trung Quốc, nhà sử học Tưởng Vĩnh Kính cho biết về sự tài trợ của Cộng Sản Quốc Tế đối với Hồ Chí Minh như sau: “Rồi đến tháng 10 năm ấy (tức năm 1930), trong đại hội đại biểu kì I được cử hành ở Hương cảng, tên đảng lại được đổi thành Đảng Cộng Sản Đông Dương. Cơ sở tổng bộ được dời về quốc nội. Bí thư đầu tiên của đảng là Trần Phú (bí danh Lí Quí), người đã từng được huấn luyện ở Nga. Tháng 4, 1931, Trần Phú bị nhà đương cuộc Pháp-Việt bắt tại Sài Gòn, và đã chết trong tù. Lúc này, đảng ấy mới chính thức được gia nhập Cộng Sản Quốc Tế, mỗi tháng nhận được 5.000 quan Pháp (tương đương 1.250 Mĩ kim) tiền trợ cấp” [42].

Nhận tiền của Liên Xô, dĩ nhiên Hồ Chí Minh phải làm việc cho Liên Xô, theo chỉ thị hành động của nước này. Họ Hồ có phương tiện để đi nơi này nơi khác hoạt động mà không lo về sinh kế nên đã trở thành công cụ của Mạc Tư Khoa trong khi đó các nhà cách mạng Việt Nam như Phan Bội Châu, Đặng Tử Kính và các thành viên trong Tâm tâm Xã cũng phải lao đao vất vả lắm mới sống được.

Về tư tưởng, Hồ Chí Minh cũng đưa tính ỷ lại vào trong chính sách, đường lối của ông khi, trong Đại Hội 2 của đảng Cộng Sản vào tháng 2 năm 1951 tại Tuyên Quang, với danh xưng mới là đảng Lao Động, Hồ Chí Minh tuyên bố: “Về lý luận, đảng Lao Động Việt Nam theo chủ nghĩa Mác-Lênin… lấy tư tưởng Mao Trạch Đông làm kim chỉ nam”. Lúc bấy giờ ông Hồ xác quyết rằng: “Không, tôi không có tư tưởng ngoài chủ nghĩa Mác-Lênin”. Vì tin tưởng người khác một cách mù quáng, không dám phê phán từ đó mất tính sáng tạo không hình thành nổi một hệ thống tư duy nào mới nên Hồ Chí Minh cũng đã từng nhiều lần tuyên bố: “Ai đó thì có thể sai, chứ đồng chí Stalin và đồng chí Mao Trạch Đông thì không thể sai được”. Thực tế đã chứng minh mọi sự trái ngược hết.

Trong hơn một thập kỷ nay, đảng CSVN càng ngày càng tỏ ra phụ thuộc Trung Quốc và bị Trung Quốc áp chế nặng nề từ việc để mất đất phía biên giới qua Thác Bản Giốc, Ải Nam Quan cho tới Hoàng Sa, Trường Sa, vụ khai thác bô-xít ở Tây Nguyên, cho Trung Quốc mướn, thuê đất trồng rừng ở một số tỉnh miền Bắc. Đảng Cộng Sản Việt Nam còn tỏ ra khiếp nhược không dám lên tiếng về việc ngư dân Việt Nam bị tàu bè Trung Quốc bắt giữ, đánh đập, cấm đoán không được ra khơi đánh cá nhưng họ lại tỏ ra hung bạo khi đàn áp, bắt bớ các nhà dân chủ, các tầng lớp thanh niên trong đó kể cả những người là đảng viên đảng CSVN khi họ bày tỏ lập trường đứng đắn chống lại thái độ bá quyền của Trung Quốc.

Thời điểm của năm 1936 là lúc mà chủ nghĩa thực dân Pháp còn tròng ách đô hộ trên toàn lãnh thổ Đông Dương nên bản Tuyên Ngôn 1939 đã viết rằng: Hiện thời vấn đề cấp bách mà chúng ta phải giải quyết ngay là sự giải phóng cho dân tộc ta cả về mặt hình thức lẫn tinh thần cái ách ngoại tộc đè nén. Muốn đến đích, chúng ta không thể noi theo con đường nào khác là làm cho phát triển đến cực độ cái tinh thần quốc gia sẵn có rễ sâu cội chắc ở trong thâm tâm mọi người.

Ách ngoại tộc là chế độ thực dân mà hình thức là các cơ chế về hành chánh, chính trị, kinh tế và tinh thần có thể kể đó là một nền văn hoá nô dịch, lai căng, cốt đào tạo ra nhiều thế hệ con người sẵn sàng làm tay sai cho mẫu quốc. Chế độ thuộc địa sử dụng bộ máy cai trị gồm nhiều quan chức người Pháp cùng số người cộng tác bản xứ. Tinh thần quốc gia là tinh thần dân tộc, đó là chính nghĩa dân tộc và lòng ái quốc chân chính cùng những giá trị của nó như ngôn ngữ, văn hoá, tư tưởng và các phạm trù tâm linh, tôn giáo, tín ngưỡng khác. Nói chung đó là chính sách dựa vào người dân (dĩ dân vi bản).

Qua đoạn văn của chủ nghĩa Dân Tộc Sinh Tồn được in đậm vừa trích dẫn nói trên, Giáo sư Nguyễn Long Vân diễn giải thêm: “Lúc Đảng Trưởng viết chủ thuyết Dân Tộc Sinh Tồn là thời kỳ dân tộc ta bị Pháp đô hộ. Cái ách ngoại tộc đè nén chính là thực dân Pháp. Áp dụng vào hiện tại, lời kêu gọi đó có hợp thời hay không? Lời kêu gọi của Đảng Trưởng không những rất thích hợp, còn cần thiết và cấp bách vì kẻ đô hộ lại hô hào chống đô hộ, thực dân lại lớn tiếng chống thực dân. Ngoại xâm không có nhưng là nội xâm. Kẻ thù nguỵ trang bằng lớp áo dân tộc để giết dân tộc bằng cách ngu muội hoá, bạc nhược hoá, và lưu manh hoá dân tộc” [43].
Khai triển về những khuynh hướng hợp quần quan trọng trong lịch sử, qua lãnh vực chiến tranh dân tộc, trong tác phẩm Chủ Nghĩa Dân Tộc Sinh Tồn, tác giả Hùng-Nguyên có viết: “Những cuộc tranh đấu giữa người Việt với người Trung Hoa, và người Chiêm, người Miên, người Lào, người Thái, người Pháp, những cuộc tranh đấu giữa người Pháp với người Đức, ngưoìi Ý, người Tây ban nha, người Anh, v.v. là những cuộc chiến tranh dân tộc. Trong những cuộc chiến tranh ấy, người của dân tộc này đem hết năng lực mình ra đối chọi lại lực lượng kia để bảo vệ lãnh thổ nước mình, để giữ vững nền độc lập của mình, để xâm chiếm một mảnh đất cần thiết cho sự sinh tồn của mình, hay để tranh giành một nguồn quyền lợi gì đó. Những cuộc chiến tranh dân tộc có thể xuất hiện dưới hình thức những cuộc cách mạng giải phóng khi một dân tộc nhược tiểu vùng lên để thoát ách đô hộ của đế quốc thống trị mình” [44].

Trong hiện tại cũng như quá khứ, Việt Nam đã phải chống chọi lại với Trung Quốc qua việc để mất đất, mất biển, việc Trung Quốc lộng hành trên biển, chiếm các hải đảo Hoàng Sa và Trường Sa, bắt cóc và hành hạ ngư dân Việt Nam đòi tiền chuộc mà chính quyền Việt Nam vẫn làm ngơ không có lấy một chút phản ứng, thậm chí trong Bộ chính trị của đảng Cộng Sản Việt Nam vẫn có rất nhiều phần tử làm tay sai cho Trung Quốc. Sự có mặt của hàng chục ngàn nhân công Trung Quốc ở Tây Nguyên tại những công trường khai thác bô-xít và các vùng trồng rừng ở một số tỉnh miền Bắc mở ra một viễn tượng là trong tương lai, chiến tranh dân tộc sẽ phải xảy ra như dự liệu của tác giả Hùng Nguyên qua đoạn văn vừa trích dẫn càng chứng tỏ tính cách viễn kiến của chủ nghĩa Dân Tộc Sinh Tồn.

Tuy nhiên trong bối cảnh Việt Nam, khi đảng Cộng Sản càng ngày càng tỏ ra là một giai cấp cầm quyền thuộc tập đoàn mafia đỏ, và chỉ với 3% trong số 86 triệu đồng bào nhưng cầm giữ tổng sản lượng quốc gia đến hơn 70%, rõ ràng là trong tương lai chúng ta sẽ phái đối diện với một cuộc chiến tranh giai cấp : giữa tầng lớp bị trị với giai cấp thống trị, đúng như tác giả Hùng Nguyên có viết trong tác phẩm Chủ Nghĩa Dân Tộc Sinh Tồn: “Bên trong quốc gia, ta thường thấy xuất hiện chiến tranh giai cấp. Trong những cuộc chiến tranh này, hạng người nghèo khó bị bóc lột đứng lên chống chọi lại những hạng thiểu số chiếm lấy chánh quyền và thừa thế mà áp chế đồng bào” [45].

Để hiểu rõ các cuộc chiến tranh giai cấp trong lịch sử Việt Nam mà tác giả Hùng Nguyên đã viện dẫn, xin đọc vào các công trình nghiên cứu của Giáo sư Nguyễn Phan Quang trong tác phẩm Theo Dòng Lịch Sử Dân Tộc đã xuất bản trong nước cách đây 6 năm. Trong tác phẩm đó, Nguyễn Phan Quang đã đề cập đến 14, 15 cuộc khởi nghĩa mang nặng tính cách chiến tranh giai cấp điển hình như khởi nghĩa Vũ Đình Dung ở làng Ngân Già, huyện Nam Ninh, Hà Nam Ninh, khởi nghĩa Nguyễn Tuyển - Nguyễn Cừ ở huyện Chí Linh, Hải Dương, phong trào nông dân Tây Sơn, khởi nghĩa Phan Bá Vành, khởi nghĩa Ba Nhàn, Tiền Bột v.v.trong nửa đầu thế kỷ XIX cùng với các phong trào chống Pháp về sau [46].

Trong một bài viết có tên “Thử nhận diện bài toán Trung Quốc”, ông Nguyễn Gia Kiểng có nêu quan điểm gần giống với quan điểm của chủ nghĩa Dân Tộc Sinh Tồn. Ông Kiểng viết: “Tuy những bài học lịch sử chỉ có giá trị tương đối nhưng chúng ta cũng vẫn phải rút ra và suy ngẫm. Ngoài những xâm thực ở biên giới đã có ba lần Trung Quốc trắng trợn dùng quân đội xâm chiếm nước ta, năm 1974 đánh chiếm Hoàng Sa, năm 1979 tấn công vào các tỉnh phía Bắc và năm 1988 đánh chiếm Hoàng Sa. Cả ba lần xâm chiếm đó đều có chung một đặc điểm: chúng ta chia rẽ, kiệt quệ và cô lập. Bài học lịch sử mà chúng ta có thể rút ra là muốn giữ được vẹn toàn bờ cõi trước áp lực của Trung Quốc thì phải tranh thủ được cảm tình của thế giới và phải có đoàn kết dân tộc” [47].

Để đối phó với sự xâm lấn ngang ngược của Trung Quốc ngày nay, rất nhiều người đã lên tiếng kêu gọi các nhà lãnh đạo đảng CSVN phải sớm trở về cùng đại khối dân tộc, lấy dân làm gốc. Trong chuyên mục “Đi tìm một giải pháp chính trị cho Việt Nam”, qua “Thư ngỏ gửi Bộ chính trị và Trung Ương đảng Cộng sản Việt nam”, tác giả Bùi Quang Vơm đã đề nghị: “Chính sách trọng tâm của chính phủ Việt Nam hiện nay phải lánh xa Trung Quốc, phải kiên quyết chống lại âm mưu xâm lược của chính quyền Trung Quốc. Muốn làm được điều đó phải dựa vào dân, đảng cộng sản phải trả lại cho dân quyền dân chủ cơ bản. Trung Quốc có thể sai khiến và uy hiếp được một số ít người trong bộ chính trị, nhưng không thể “đầu độc” cả 85 triệu người Việt Nam” [48].

Tổng luận

Chủ nghĩa của một chính đảng quốc gia là kim chỉ nam hướng dẫn mọi hành động của cán bộ đảng viên trong công cuộc đấu tranh cho lý tưởng của mình. Lý tưởng của Đại Việt là sự sống còn của dân tộc mà bao lâu dân tộc còn hiện diện trên dải giang sơn hình chữ S này thì bấy lâu sự sinh tồn vẫn còn là mục tiêu phải đạt tới. Sự sinh tồn của một dân tộc cũng phải được củng cố và phát triển và ngày một nâng cao. Khi sự sinh tồn cao quý đó bị đe doạ thì dĩ nhiên mọi người dân trong nước đều phải có nhiệm vụ lo toan (quốc gia hưng vong thất phu hữu trách).

Trong cuốn Từ Thực dân đến Cộng sản, tác giả Mạc Định Hoàng Văn Chí có kể lại một câu chuyện như sau: “Hồi Cụ Phan Bội Châu mới sang Tàu, một nhân sĩ Tàu là Dương Giác Đôn, đưa Cụ đến yết kiến một viên đại thần của Triều đình Mãn Thanh, là Trang Uẩn Khoan. Vị đại thần tiếp đãi rất tử tế và biếu Cụ một món tiền trợ cấp. Sau khi Cụ ra về, Trang Uẩn Khoan bảo Dương Giác Đôn: “Người An-Nam có bản tính nô lệ (nô lệ căn tính), dù có vài chí sĩ như ông này (chỉ Cụ Phan) cũng chẳng làm nên trò trống gì”.

Năm 1912, Tôn Văn viếng thăm Nhật Bản, và được chính khách Nhật là Khuyển-Dưỡng Nghị (Inukai Tsuyoshi) khoản đãi. Sau bữa tiệc, Khuyển-dưỡng Nghị bất thần hỏi Tôn Văn: “Tôi được biết Tiên sinh có dịp qua Hà Nội, xin Tiên sinh cho biết tôn ý về dân tộc An Nam?”

Bị hỏi một cách đột ngột, Tôn Văn chỉ kịp nhớ lại câu của Trang Uẩn Khoan, hối hả đáp: “Người An-nam vốn nô lệ căn tính. Ngày xưa, họ bị người Hán chúng tôi đô hộ, ngày nay họ lại bị người Pháp cai trị. Dân tộc ấy quả không có tương lai”.

Được dịp, Khuyển-dưỡng Nghị liền nói: “Về điểm này tôi xin phép không đồng ý với Tiên sinh. Ngày nay họ thua người Pháp, vì họ không có khí giới tối tân, nhưng cứ xét lịch sử, thì trong số Bách Việt (sic), chỉ có họ là thoát khỏi, không bị Hán hoá. Tôi tin rằng một dân tộc biết tự bảo vệ một cách bền bỉ, như vậy thì thế nào sớm muộn cũng sẽ lấy lại được quyền tự chủ.” Tôn Văn đỏ mặt, vì hiểu ý Khuyển-dưỡng Nghị muốn châm chọc, cho rằng Tôn Văn là người Quảng Đông, tổ tiên là người A-khách (Hakka), một sắc tộc trong Bách Việt, nhưng kém xa dân tộc Việt Nam, vì đã bị Hán hoá hoàn toàn
” [49].

Những biến cố chính trị trong hai thập kỷ gần đây đã chứng tỏ đảng Cộng Sản Việt Nam và tập đoàn cầm quyền trong Bộ chính trị đã có thừa “nô lệ căn tính”, nhắm mắt đi theo quan thầy Trung Quốc không một chút liêm sỉ mà mục đích chỉ cốt bào vệ quyền hành của mình.

Khai sinh trong hoàn cảnh một đất nước bị đô hộ, chủ nghĩa Dân Tộc Sinh Tồn nêu cao ý niệm đoàn kết trên căn bản dân tộc, tự chủ và tự lực, vốn rất xa lạ với cái gọi là “nô lệ căn tính” chắc chắn vẫn còn là một chủ nghĩa đầy viễn kiến trong cuộc mưu tìm sự sống còn cho dân tộc.

Từ Phong
25/05/2010


[1] Nguyễn Hiến Lê, Khổng Tử & Luận Ngữ. Nhà xuất bản Văn Học, 2003, trang 5.
[2] Lê Văn Siêu, Văn học sử thời kháng Pháp, 1858-1945. Nxb. Xuân Thu, in lại theo bản in của Nxb. Trí Đăng, Sài Gòn, trang 207.
[3] Lê Văn Siêu, Sách đã dẫn, trang 207-208.
[4] Lê Văn Siêu, Sđd, tr. 210.
[5] Lê Văn Siêu, Sđd, tr. 211.
[6] Lê Văn Siêu, Sđd, tr. 212.
[7] LêVăn Siêu, Sđd, tr. 213.
[8] Lê Văn Siêu, Sđd, tr. 215.
[9] Phan Khôi, ngưởi Điện Bàn, Quảng Nam, nổi tiếng là một tay kiệt xuất trong làng văn học, người khởi xướng thơ mới với bài Tình già, bị chính quyền CS trù dập trong vụ án Nhân Văn Giai Phẩm tại Hà Nội năm 1956.
[10] Lê Văn Siêu, Sđd, tr. 218.
[11] David G. Marr, Vietnamese tradition on trial 1920-1945. University of California Press, 1981, tr. 218.
[12] Lê Văn Siêu, Sđd, 220.
[13] Lê Văn Siêu, Sđd, tr. 220.
[14] Hoài Thanh & Hoài Chân, Thi Nhân Việt Nam. Nxb. Văn Học Hà Nội, 1988, tr. 14.
[15] Nhiều tác giả, Nhất Linh, người nghệ sĩ, người chiến sĩ. Thế Kỷ xb. 2004, tr. 143.
[16] Lê Đình Thông trong Tuyển tập Nhất Linh, người nghệ sĩ, người chiến sĩ, dẫn ý kiến của Phạm Thế Ngũ trong Việt Nam Văn học sử Giản ước Tân biên, tập 3, tr. 433 giải thích hai chữ Tự Lực (Nhiều tác giả, Sđd, trang 143).
[17] Lê Đình Thông, Bài đã dẫn, tr. 145.
[18] Nguyễn Thế Anh, Việt Nam Thời Pháp Đô Hộ. Tủ sách Sử-Địa Học, Nxb. Lửa Thiêng, Sài-Gòn, 1970, tr. 288.
[19] Nguyễn Thế Anh, Sđd, tr. 342.
[20] Minh Võ, Hồ Chí Minh, nhận định tổng hợp. Tủ sách Tiếng Quê Hương, tái bản lần I, Virginia, 2006, tr. 64.
[21] Phạm Văn Sơn, Quân Dân Việt Nam Chống Tây Xâm, tức Quân Sử III, Cơ sở xuất bản Đại Nam, in tại Đài Loan, Trung Hoa Dân Quốc, 1971, tr. 420.
[22] Phạm Văn Sơn, Sđd, tr. 420.
[23] Hà Thúc Ký, Sống Còn Với Dân Tộc. Phương Nghi ấn hành 2009, tr. 32.
[24] Hà Thúc Ký, Sđd, tr. 32-33.
[25] Bảo Đại, Con Rồng Việt Nam. Hồi ký chánh trị 1913-1987, Nguyễn Phước Tộc xuất bản, 1990, tr. 91.
[26] Phạm Quỳnh, “Bức thư ngỏ trình quan Thuộc Địa Tổng Trưởng”, Nam Phong tháng 10-1931, số 166, tr. 225.
[27] Phạm Văn Sơn, Sđd, tr. 419.
[28] Phạm Văn Sơn, Sđd, tr. 421.
[29] Tuyên Ngôn Đại Việt Quốc Dân Đảng 1939, bản in tại Hoa Kỳ tháng 11-1985, tr. 17.
[30] Đại Việt Sử Ký Bản Kỷ Toàn Thư, quyển III, tờ 1b, bản dịch của Viện Khoa Học Xã Hội Việt Nam. Nxb. Khoa Học Xã Hội, Hà Nội 1998, Tập I, tr. 270.
[31] Đại Việt Sử Ký Toàn Thư gọi tắt Toàn Thư, Sđd, tr. 276.
[32] Hùng Nguyên, Chủ Nghĩa Dân Tộc Sinh Tồn. Quyển II, 1964, tr. 312.
[33] Hà Thúc Ký, Sđd, tr. 110
[34] Phạm Khắc Hàm, Triết lý Lý Đông A, Triết ly tổng thể duy nhân. Nhóm diễn đàn địa lý nhân văn Việt Nam, 1998, trang XIV.
[35] Nguyễn Tường Bách, Việt Nam những ngày lịch sử. Nhóm nghiên cứu sử địa Việt Nam, Montreal, 1981, trang 82.
[36] Tạp chí Talawas, số mùa Thu 2009.
[37] Thân Tứ Long, Bài đã dẫn.
[38] Vũ Tường, bài “Lời dẫn - Từ giải phóng đến giải pháp”… Xem bài của Nghê Hiểu Hà, một tác giả Trung Quốc có quan điểm giống chính phủ Việt Nam về “chủ nghĩa li khai” ở Tây Nguyên, trong mục Chuyên đề “Bao nhiêu chủ nghĩa dân tộc là đủ?”
[39] Vũ Tường, bài đã dẫn.
[40] Tuyên Ngôn, Tư liệu đã dẫn, trang 12.
[41] Nhiều tác giả, Hồ Chí Minh, Sự thật về Thân thế & Sự nghiệp. Nxb. Nam Á [Sudasie], Paris, 1990, trang 62.
[42] Tưởng Vĩnh Kính, Hồ Chí Minh tại Trung Quốc (nguyên văn: Nhất cá Việt nam dân tộc chủ nghĩa đích nguỵ trang giả), Thượng Huyền dịch. Nxb. Văn Nghệ, 1999, tr. 110.
[43] Nguyễn Long Vân, Chủ nghĩa Dân Tộc Sinh Tồn của Nhà Cách Mạng Trương Tử Anh, tác giả tự xuất bản, không đề năm in, trang 89.
[44] Hùng Nguyên, Chủ nghĩa Dân Tộc Sinh Tồn, Quyển II, trang 265.
[45] Hùng nguyên. Sđd, trang 265.
[46] Nguyễn Phan Quang, Theo Dòng Lịch Sử, Sự kiện & Tư liệu. Nxb. Tổng Hợp TP. Hồ Chí Minh, 2004.
[47] Nguyễn Gia Kiểng, “Thử nhận diện bài toán Trung Quốc”, Thông Luận điện tử ngày 3.7.2008).
[48] Bùi Quang Vơm, “Thư ngỏ gửi Bộ chính trị và Trung ương đảng Cộng sản Việt nam”, Sài Gòn Nhỏ số 682 ngày 21 tháng 5 năm 2010.
[49] Mạc Định Hoàng Văn Chí, Duy Văn Sử Quan. Tủ Sách Cành Nam, 1990, trang 153.

© Thông Luận 2010

 
Trang liên hệ
· Đọc thêm về Nhìn Lại Mình


Bài được đọc nhiều nhất trong Nhìn Lại Mình:
Góp ý về vấn đề biểu tượng cho cuộc vận động dân chủ hoá đất nước (Phạm Đỉnh)


Lựa chọn

 Trang in Trang in

 Gởi đến cho bạn bè Gởi đến cho bạn bè




Copyright © 1988-2010 Thông Luận
Chủ nhiệm: Phạm Đỉnh

Thongluan - Address: 7 Allée Bouleau Carreau, 77600 Bussy-Saint Georges, France
ISSN 1145-9557, năm thứ 22.
Liên lạc:
hopthu@thongluan.org



PHP-Nuke Copyright © 2004 by Francisco Burzi